Cải bẹ là cây họ cải, còn được gọi là cải canh, là một loại cây thảo sống quanh năm. Thân cây có hình trụ và nhẵn, khi nở hoa có thể cao hơn 1m. Phiến lá to và rộng, có rãnh sâu ở phía dưới, mép lá lượn sóng, răng cưa. Hoa màu vàng, mọc ở nách lá và ngọn. Quả thuôn dài và nhọn. Hạt nhỏ, hình cầu, màu nâu vàng hoặc nâu. Nó mọc ở hầu hết các khu vực trên cả nước, phần lớn là ở đồng bằng sông Hồng như các tỉnh Thái Bình, Hưng Yên và Hải Dương. Ngoài việc dùng trong y học, hạt cải bẹ còn được dùng để làm gia vị mù tạt, ép lấy dầu, làm nguyên liệu để chế biến các thành phần phụ gia.
Tìm hiểu về cây cải bẹ
Cải bẹ xanh còn gọi là cải xanh, cải canh, cải cay… Nó có tên khoa học là Brassica juncea (L.) Cải bẹ xanh có màu xanh, vị đắng nhẹ, cay mạnh. Loại cải này thường được dùng để luộc, nấu canh hoặc xào, dùng làm rau sống ăn kèm. Cải bẹ xanh có lượng calorie thấp. Nhưng lại nhiều chất xơ cùng các vitamin và khoáng chất thiết yếu. Đặc biệt, chúng là nguồn cung cấp vitamin C và K dồi dào. Cải bẹ xanh rất dễ trồng và thu hoạch bằng phương pháp gieo cấy. Đây là loại rau trồng quanh năm với mỗi vụ khoảng từ 40 đến 45 ngày.
Cải bẹ xanh chứa một lượng vitamin K lớn. Đủ cho nhu cầu mỗi ngày của cơ thể. Nếu cơ thể thiếu hụt vitamin K sẽ dễ dẫn đến chứng không đông máu hoặc gặp các vấn đề sức khỏe liên quan đến tim và loãng xương. Thậm chí, một số nghiên cứu mới đây cho thấy việc thiếu vitamin K có thể liên quan đến việc tăng nguy cơ suy giảm chức năng não, mất trí nhớ và bệnh Alzheimer. Do cải bẹ xanh chứa một lượng vitamin C dồi dào. Nên nó cũng sẽ giúp tăng cường hệ miễn dịch. Chỉ cần một bát canh rau cải. Tương đương 56g rau tươi hoặc 140g rau cải đã nấu chín. Có thể cung cấp hơn 1/3 nhu cầu vitamin C cần thiết mỗi ngày.
Giá trị của cải bẹ trong y học
Là cây vừa có giá trị về mặt thực phẩm vừa có giá trị làm thuốc trong YHCT. Người ta thu hái các quả, để đập lấy hạt làm thuốc. Hạt cải bẹ có tên vị thuốc là bạch giới tử ( Semen Brassicae allbae) chứa chất dầu mà thành phần chủ yếu là a xít béo sinapic, arachidic, crucic. Có tinh dầu, được hình thành chủ yếu sau khi thủy phân glucosid sinigrosid có trong hạt cải bởi enzym myrosinase (có trong hạt cải). Để cho chất sulfat axít Kali glucose và alyl isothiacyanat (cò ngọi là tinh dầu mù tạc) có mùi đặc trưng của họ Cải.
Sản phẩm này có tác dụng kích thích da, gây sung huyết. Trên cơ sở đó làm tan các mụn nhọt, giảm đau cơ, đau dây thần kinh. Tuy nhiên nếu sử dụng thời gian dài hoặc liều cao có thể làm rộp da, hoặc gây nôn, gây viêm dạ dày, ruột, dẫn đến đau bụng. Ngoài việc dùng trong y học, hạt cải bẹ còn được dùng để chế biến gia vị “mù tạc”, và dùng ép dầu làm nguyên liệu chế biến phụ tử. Trước khi dùng, tùy theo yêu cầu có thể tiến hành chế biến theo một số phương pháp vi sao, sao đen, sao vàng.
Những và thuốc từ cải bẹ và lưu ý khi sử dụng
Theo YHCT, bạch giới tử có tác dụng ôn phế, trừ đàm hàn, giảm đau, tiêu thũng, tán kết, thông kinh lạc, hành khí, lợi khí. Dùng trị ho hàn, nhiều đờm, suyễn tức, khó thở, sườn ngực đau trướng, xương khớp tê đau. Liều dùng, ngày 3 – 9g, dạng thuốc sắc hoặc hoàn, tán. Kiêng kỵ, phế hư, ho khan. Không nên sử dụng thời gian dài hoặc liều cao.
– Trị ho đờm, suyễn kéo dài, hạt cải bẹ, hạt cải củ, cò ngọi là lai phục tử (Semen Raphani), quả tía tô, cò ngọi là tô tử (Fructus Perillae frutescentis), đồng lượng 6 – 9g, dưới dạng thuốc sắc hoặc thuốc bột.
– Trị mụn nhọt sưng đau, đau họng, hạt cải bẹ 9g vi sao, nghiền mịn, thêm chút nước, quấy đều tạo thành dạng hồ nhão, lấy bông sạch chấm thuốc, bôi vào nơi sưng đau, nếu đau họng thì bôi quanh vùng ngoài yết hầu, nếu nhọt bọc, hoặc viêm hạch lâm ba thì bôi chỗ sưng, làm nhiều lần trong ngày .
– Trị đau đầu, hạt cải bẹ 8g, vi sao, tán mịn, mặt khác lấy 10g gừng tươi, rửa sạch, thái phiến, giã nát, vắt lấy nước cốt. Đem bột hạt cải bẹ trộn đều với nước gừng, rồi bôi vào vùng gáy.
Hy vọng bài viết của Xuất bản online đã cung cấp cho bạn đọc những thông tin hữu ích.
Nguồn: thaythuocvietnam.vn